You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Tin tức > Tuyên truyền phổ biến Giáo dục - Pháp luật > ĐỀ CƯƠNG LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

ĐỀ CƯƠNG LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

27/12/2012
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Giám định tư pháp là một loại hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Vì thế, để kịp thời phục vụ cho việc thực hiện Bộ luật Hình sự năm 1987, ngày 21/7/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 117/HĐBT về giám định tư pháp. Tiếp đó, ngày 29/9/2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Giám định tư pháp, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005.
Sau 6 năm triển khai thi hành Pháp lệnh, công tác giám định tư pháp đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Pháp lệnh cho thấy, công tác giám định tư pháp đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cần được khắc phục sớm. Chẳng hạn, đội ngũ người giám định tư pháp còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Kết luận giám định tư pháp trong một số trường hợp chưa thực sự chính xác, khách quan; tình trạng mâu thuẫn, xung đột giữa các kết luận giám định không giảm, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Những hạn chế, yếu kém của công tác giám định tư pháp trong một số lĩnh vực đang trở thành “điểm nghẽn” làm ách tắc nhiều hoạt động tố tụng. Nhận thức của một số ngành, địa phương về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giám định tư pháp chưa đầy đủ, cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị của các tổ chức giám định, nhất là ở cấp tỉnh đa phần còn thiếu thốn, lạc hậu. Một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế, bất cập kể trên là thể chế về giám định tư pháp chưa hoàn thiện.
Trước yêu cầu thực tiễn của công tác giám định tư pháp và để tiếp tục thể chế hoá quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng và nhu cầu của xã hội, thì việc xây dựng, ban hành Luật Giám định tư pháp là rất cần thiết.
II. MỤC ĐÍCH BAN HÀNH VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT
1. Mục đích ban hành
Luật Giám định tư pháp được ban hành nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới mang tính đột phá, bền vững cho hoạt động giám định tư pháp ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng mà trọng tâm là bảo đảm việc phán quyết của toà án được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.
2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
1. Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về giám định tư pháp theo hướng: Nhà nước tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng; sắp xếp, đổi mới hệ thống tổ chức pháp y, pháp y tâm thần; thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên, tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập; mở rộng phạm vi giám định tư pháp để tạo điều kiện cho các đương sự trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần thực thi có hiệu quả chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
2. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh Giám định tư pháp, kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh, nâng tầm các quy định có tính nguyên tắc trong các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan thành quy định của Luật.
3. Có chính sách tôn vinh và đãi ngộ để thu hút chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp; quy định một số giải pháp nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” về thiếu người giám định, tổ chức chuyên môn làm giám định ở một số lĩnh vực giám định tư pháp.
4. Bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám định tư pháp trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
1. Bố cục
Luật Giám định tư pháp gồm 8 chương, với 46 điều.
- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6)
(từ Điều 7 đến Điều 11)
Tổ chức giám định tư pháp (từ Điều 12 đến Điều 17)
- Chương IV: Người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc (từ Điều 18 đến Điều 20)
- Chương V: Hoạt động giám định (từ Điều 21đến Điều 35)
- Chương VI: Chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp (từ Điều 36 đến Điều 38).
- Chương VII: Trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp (từ Điều 39 đến Điều 44)
- Chương VIII: Điều khoản thi hành (từ Điều 45 đến Điều 46)
2. Những nội dung cơ bản của Luật Giám định tư pháp
2.1. Phạm vi điều chỉnh
Điều 1 quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Giám định tư pháp. Theo đó, Luật quy định về giám định viên tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; hoạt động giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp và trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp.
2.2. Về quyền yêu cầu giám định tư pháp
Điều 2 (khoản 1) Luật quy định: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này”. Người yêu cầu giám định bao gồm: đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (khoản 3 Điều 2).
Như vậy, quyền yêu cầu giám định tư pháp quy định trong Luật có mở rộng hơn so với Pháp lệnh Giám định tư pháp 2004. Theo quy định của Pháp lệnh (Điều 1) thì chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án) mới được trưng cầu giám định tư pháp, đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ nêu trên chỉ có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định chứ không được trực tiếp yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Quy định này của Luật đã mở ra cơ hội mới, tạo điều kiện chủ động cho các bên đương sự chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2.3. Về giám định viên tư pháp
- Về tiêu chuẩn giám định viên tư pháp
Điều 7 Luật Giám định tư pháp quy định về tiêu chuẩn của giám định viên tư pháp. Theo đó, Luật vẫn giữ nguyên tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm như quy định của Pháp lệnh đối với giám định viên tư pháp trong các lĩnh vực văn hóa, tài chính, xây dựng…, cụ thể các tiêu chuẩn đó là: công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp. Người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp có thể là công chức, viên chức nhà nước hoặc cũng có thể là người hành nghề tự do.
Riêng đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì ngoài các tiêu chuẩn trên còn phải có Chứng chỉ đã được bồi dưỡng nghiệp vụ giám định. Đây là quy định mới của Luật so với Pháp lệnh. Sở dĩ có quy định này vì: do đặc thù của hoạt động giám định tư pháp trong các lĩnh vực này là người có chuyên môn về y tế hay kỹ thuật hình sự cũng chưa thể thực hiện giám định được theo yêu cầu.
Một điểm mới nữa trong quy định của Luật về tiêu chuẩn của giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự là: đối với người đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn chỉ cần từ đủ 03 năm trở lên (không phải 5 năm) cũng được xem xét bổ nhiệm giám định viên tư pháp.
- Về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp
Điều 9 và Điều 10 của Luật quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp. So với các quy định của Pháp lệnh thì thẩm quyền bổ nhiệm giám định viên tư pháp ở Trung ương có sự thay đổi  (Pháp lệnh quy định việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp do Bộ trưởng quản lý người được đề nghị thực hiện). Tuy nhiên, theo quy định của Luật thì Bộ trưởng Bộ quản lý lĩnh vực chuyên môn sẽ thực hiện việc bổ nhiệm giám định viên thuộc lĩnh vực quản lý của mình (Bộ trưởng Bộ Y tế bổ nhiệm giám định viên pháp y trong cả ngành Công an trong toàn quốc, Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm giám định viên kỹ thuật hình sự trong cả quân đội).
Điều 10 Luật quy định rõ ràng hơn đối với trường hợp giám định viên tư pháp là công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng có Quyết định nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hoặc thôi việc. Đối với những trường hợp này, không thực hiện miễn nhiệm giám định viên tư pháp, trừ trường hợp họ có nguyên vọng xin thôi làm giám định viên, vì đây là những chuyên gia có kinh nghiệm, rất cần thiết cho hoạt động giám định tư pháp, nhất là trong điều kiện thiếu đội ngũ giám định viên như hiện nay.
- Về quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp
Giám định viên tư pháp cho nghĩa vụ thực hiện giám định theo trưng cầu, yêu cầu của người trưng cầu, người yêu cầu giám định hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức được trưng cầu, yêu cầu; có quyền từ chối giám định trong trường hợp nội dung cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn; tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ giám định, kiến thức pháp luật; thành lập Văn phòng giám định tư pháp khi có đủ điều kiện quy định; thành lập, tham gia hội giám định viên tư pháp theo quy định của pháp luật về hội; hưởng chế độ, chính sách khác theo quy định;…
2.4. Về tổ chức giám định tư pháp
Luật Giám định tư pháp quy định có 02 loại tổ chức giám định tư pháp, đó là: tổ chức giám định tư pháp công lập và tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.
a) Tổ chức giám định tư pháp công lập:
Tổ chức giám định tư pháp công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Cụ thể:
- Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y bao gồm: Viện pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế; Trung tâm pháp y cấp tỉnh; Viện pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng; Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.
- Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần bao gồm: Viện pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế; Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ Y tế.
Căn cứ yêu cầu giám định pháp y tâm thần của hoạt động tố tụng và điều kiện thực tế của các khu vực, vùng miền trong cả nước, Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự bao gồm: Viện khoa học hình sự thuộc Bộ Công an; Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh; Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.
Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi.
Như vậy, so với Pháp lệnh thì quy định của Luật về mô hình tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần có sự thay đổi, cụ thể là:
- Luật quy định tổ chức giám định pháp y công lập ở địa phương chỉ có một hình thức tổ chức duy nhất là Trung tâm pháp y, thay vì Trung tâm pháp y hoặc Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh như trước đây. Giám định viên pháp y thuộc Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh chỉ thực hiện giám định pháp y tử thi, không thực hiện giám định pháp y về thương tích.
- Tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y tâm thần được đổi mới căn bản, theo đó, Nhà nước thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thay cho Trung tâm pháp y tâm thần tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Quy định này để thu gọn đầu mối, tập trung nguồn lực và phù hợp với thực tế về nhu cầu giám định pháp y tâm thần, đồng thời phù hợp với yêu cầu của giám định pháp y tâm thần là phải có khu riêng biệt để lưu giữ đối tượng khám chữa bệnh bắt buộc và đối tượng giám định, phù hợp với nhu cầu, đối tượng giám định.
b) Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập:
Đây là một trong những điểm mới cơ bản của Luật Giám định tư pháp, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động giám định tư pháp.
- Phạm vi, hình thức hoạt động của tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập:
Theo quy định tại Điều 14 thì tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập hoạt động dưới hình thức Văn phòng giám định tư pháp. Văn phòng giám định tư pháp được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả. Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do 02 giám định viên tư pháp trở lên thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.
Điều 15 quy định giám định viên tư pháp phải có từ đủ 05 năm trở lên là giám định viên tư pháp trong lĩnh vực đề nghị thành lập Văn phòng và có Đề án thành lập theo quy định của Luật (tại điểm d khoản 2 Điều 16). Tuy nhiên, cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng không được thành lập Văn phòng giám định tư pháp.
- Quyết định cho phép thành lập và đăng ký hoạt động của Văn phòng  giám định tư pháp:
Điều 16 của Luật quy định giám định viên tư pháp xin phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp gửi hồ sơ xin phép thành lập đến Sở Tư pháp. Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định hồ sơ xin phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp và thống nhất ý kiến với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý lĩnh vực giám định tư pháp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép thành lập, Văn phòng giám định tư pháp đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp.
2.5. Về người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc
- Người giám định tư pháp theo vụ việc phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.
Trong trường hợp người không có trình độ đại học nhưng có kiến thức chuyên sâu và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực cần giám định thì có thể được lựa chọn làm người giám định tư pháp theo vụ việc (Điều 18).
- Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc phải có tư cách pháp nhân, có hoạt động chuyên môn phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định và có điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất bảo đảm cho việc thực hiện giám định (Điều 19).
2.6. Về hoạt động giám định tư pháp
Luật quy định rõ hơn các vấn đề liên quan đến hoạt động trưng cầu và thực hiện giám định tư pháp, quyền và nghĩa vụ của người trưng cầu giám định cũng như các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.
Luật cũng quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người tự yêu cầu giám định tư pháp (đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ) cho phù hợp với việc mở rộng phạm vi như đã nêu ở trên.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cơ chế giải quyết xung đột kết luận giám định để khắc phục những bất cập hiện nay liên quan đến vấn đề này.
2.7. Chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp
- Về chi phí giám định tư pháp: Điều 36 của Luật quy định: “Người trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có trách nhiệm trả chi phí giám định tư pháp cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp theo quy định của pháp luật về chi phí giám định tư pháp”.
Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng (Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH 13). Theo đó “chi phí giám định là số tiền cần thiết, hợp lý phải chi trả cho công việc giám định do tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tính căn cứ vào quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”; Pháp lệnh quy định nguyên tắc thu chi phí giám định (Điều 4), nguyên tắc xác định chi phí giám định (Điều 9), chi phí giám định bổ sung, giám định lại (Điều 10)...
- Về chế độ, chính sách: Luật quy định mang tính nguyên tắc những chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng và tôn vinh người làm giám định tư pháp để thu hút các chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tham gia hoạt động giám định tư. Luật đã dành 01 điều quy định về chế độ đối với người giám định tư pháp và người tham gia giám định tư pháp (Điều 37) và 01 điều quy định về chính sách đối với hoạt động giám định tư pháp (Điều 38).
2.8. Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp
Luật quy định về cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp với trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước; đề cao và làm rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp, đặc biệt là các Bộ, ngành chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý.
Đồng thời, Luật bổ sung quy định mới về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động giám định tư pháp (cơ quan điều tra, Toà án, Viện kiểm sát), tạo ra cơ chế cộng đồng trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động giám định tư pháp.
2.9. Về hiệu lực thi hành:
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013.
 
CÁC TIN KHÁC
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam tỉnh trong công tác dân tộc (17/08/2018)
Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh: Hội nghị biểu dương các tập thể, cá nhân thực hiện hiệu quả các mô hình tham gia bảo đảm trật tự an toàn giao thông, giai đoạn 2015-2018. (15/08/2018)
đoàn công tác tỉnh Gia Lai sang thăm, hỗ trợ và khắc phục sự cố vỡ đập thủy điện Xepian-Xe Nam Noy thuộc tỉnh Attapeu, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (31/07/2018)
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tiếp đoàn cán bộ Mặt trận Lào Xây dựng đất nước: (29/07/2018)
ỦY BAN MTTQVN HUYỆN ĐAK PƠ TỔ CHỨC LỄ BÀN GIAO BÒ SINH SẢN (27/07/2018)
Mặt trận tổ quốc thị xã Ayun pa ký kết chương trình phối hợp công tác (25/07/2018)
Lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Gia Lai thăm và trao tiền hỗ trợ cho gia đình có nạn nhân bị đuối nước tại huyện Ia Grai. (21/06/2018)
LÃNH ĐẠO ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM TỈNH: Thăm hỏi, động viên các nạn nhân, gia đình nạn nhân bị tai nạn giao thông (11/05/2018)
Hội nghị biểu dương già làng, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số huyện Chư Pưh lần thứ I, năm 2018 (27/04/2018)
ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM TỈNH GIA LAI TỔ CHỨC HỘI NGHỊ PHẢN BIỂN. (18/04/2018)
BAN THƯỜNG TRỰC ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM TỈNH LÀM VIỆC VỚI BAN THƯỜNG TRỰC ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM HUYỆN PHÚ THIỆN (18/04/2018)
ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM TỈNH GIA LAI TỔ CHỨC BÀN GIAO NHÀ TÌNH NGHĨA CHO HỘ NGHÈO. (01/02/2018)
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI TỈNH GIA LAI. (07/12/2017)
THỊ XÃ AYUN PA TỔ CHỨC GẶP MẶT BIỂU DƯƠNG GIÀ LÀNG, NGƯỜI UY TÍN TIÊU BIỂU NĂM 2017 (05/12/2017)
THỊ XÃ AYUN PA TỔ CHỨC HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 NĂM THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “LÀM THAY ĐỔI NẾP NGHĨ, CÁCH LÀM TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỂ TỪNG BƯỚC VƯƠN LÊN THOÁT NGHÈO BỀN VỮNG” (30/11/2017)

 |<  <  1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10  >  >| 
tai-xuong.png
 
              Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai
                          Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
                       Chịu trách nhiệm:  Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh Gia Lai