You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Tin tức > Tuyên truyền phổ biến Giáo dục - Pháp luật > ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

27/12/2012
Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội khoá XI thông qua tại Kỳ họp thứ 8 ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2006 (thay thế Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng năm 1996) và được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XII ngày 04/8/2007. Đây là một đạo luật quan trọng thể hiện quyết tâm của Đảng, nhà nước và nhân dân ta trong công cuộc chống tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng xác lập một khuôn khổ pháp lý cơ bản làm tiền đề cho việc xây dựng chiến lược toàn diện và lâu dài cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Luật phòng, chống tham nhũng đồng thời khẳng định với quốc tế rằng Việt Nam cam kết thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về đấu tranh chống tham nhũng.
Việc xây dựng Luật phòng, chống tham nhũng đã tạo dựng một khung pháp lý vững chắc góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức và công dân về công tác phòng, chống tham nhũng. Sau khi Luật phòng, chống tham nhũng ra đời, Chính phủ, các cấp, các ngành đã ra sức nỗ lực triển khai nhằm đưa Luật vào cuộc sống và đã đạt được những kết quả nhất định.
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1. Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, trật tự, an ninh xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đứng trước những nguy cơ và thách thức lớn. Tình hình tham nhũng diễn ra rất phức tạp ở nhiều lĩnh vực và có xu hướng tăng về quy mô, tính chất ngày càng nghiêm trọng, thể hiện ở số lượng tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát; số đối tượng vi phạm pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ, công chức thậm chí có cả một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có hành vi tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh giá: “Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Ngày nay, cùng với sự ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường, và những nguyên nhân khác, tham nhũng không còn là một hiện tượng nhỏ lẻ mà trở thành tệ nạn và được nhìn nhận như một vấn đề hệ trọng của quốc gia.
Dưới góc độ kinh tế-xã hội và pháp luật, có thể khái quát ở các góc độ như sau:
Thứ nhất, mức độ tham nhũng ngày càng lớn. Qua kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, xét xử cho thấy các vụ việc tham nhũng có xu hướng tăng cả về quy mô lẫn số lượng tài sản nhà nước bị chiếm đoạt, lãng phí, thất thoát.
Thứ hai, tham nhũng ngày càng lan rộng, phổ biến, …“Ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp…” (Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006,tr.12). Ngoài những lĩnh vực hay xảy ra tham nhũng như xây dựng cơ bản, đất đai, quản lý tài chính, thuế, hải quan… hiện nay tham nhũng đang lan sang các lĩnh vực từ trước tới nay được coi trọng về đạo lý như giáo dục, y tế, chính sách nhân đạo… Thậm chí ngay cả các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Thứ ba, tính chất tham nhũng ngày càng phức tạp, nghiêm trọng, thủ đoạn tham nhũng ngày càng tinh vi. Tham nhũng ngày càng có tổ chức được cấu kết chặt chẽ, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, thậm chí xuyên quốc gia.
Thứ tư, sự móc nối giữa các phần tử thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước với những phần tử tội phạm bên ngoài, giữa khu vực công và tư là vấn đề nhức nhối, có xu hướng phát triển nhanh hết sức nguy hiểm. Tình trạng này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó là việc bảo kê, che chắn cho các hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức của bọn “xã hội đen” như vụ Khánh Trắng, Phúc Bồ, Năm Cam…
          Tham nhũng được tổng kết thường xảy ra ở những lĩnh vực chủ yếu như sau:
          - Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản;
          - Trong lĩnh vực quản lý đất đai;
          - Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và tổ chức tín dụng;
          - Trong lĩnh vực tài chính sử dụng ngân sách nhà nước;
          - Trong lĩnh vực thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội;
          - Trong quản lý và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;
          - Trong lĩnh vực y tế, giáo dục- đào tạo;
          - Trong hoạt động tư pháp và hoạt động thanh tra, kiểm tra.
2. Các quy định của pháp luật về chống tham nhũng hiện hành chưa đáp ứng với yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế, chưa phù hợp với tinh thần và nội dung của Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam ký kết năm 2003; Chương trình chống tham nhũng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và sáng kiến chống tham nhũng trong khuôn khổ APEC mà Việt Nam tham gia năm 2004.
Những tác hại của tham nhũng là rất lớn, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm băng hoại giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc, đe dọa sự tồn vong của cả chế độ.
Chính vì vậy việc ban hành Luật phòng, chống tham nhũng là vấn đề cần thiết. Tuy nhiên, để đưa pháp luật phòng, chống tham nhũng vào đời sống thì trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc triển khai thi hành Luật một cách nghiêm túc, triệt để là một vấn đề hết sức quan trọng và có tính quyết định.
II. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT
Việc xây dựng và ban hành Luật phòng, chống tham nhũng quán triệt các quan điểm và nguyên tắc sau đây:
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách nền hành chính nhà nước; về đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới. Theo đó, chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị; khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội; gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi.
2. Phải coi các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là chủ trương chiến lược, căn bản, lâu dài trong phòng, chống tham nhũng; kết hợp giữa phòng và chống, vừa tích cực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng. Trước mắt, cần quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa thông qua việc tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước; trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước; xây dựng và hoàn thiện chế độ công vụ; công khai, minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.
3. Tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua để kế thừa và phát huy những ưu điểm của các quy định của Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998, bổ sung kịp thời các quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong thể chế và thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay.
4. Luật phòng, chống tham nhũng phải bảo đảm tính khả thi, có bước đi thích hợp, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta; phù hợp với tinh thần và nội dung của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam đã gia nhập hoặc ký kết; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phòng, chống tham nhũng.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật phòng, chống tham nhũng gồm 8 Chương, 92 điều được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Chủ tịch nước ký lệnh công bố số 26/2005/L/CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005 và có hiệu thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006.
IV. MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT
1. Khái niệm tham nhũng:
Hành vi tham nhũng theo Luật này gồm 3 yếu tố cơ bản là: Yếu tố chức vụ, quyền hạn; yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn và yếu tố vụ lợi.
1.1. Người có chục vụ, quyền hạn bao gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức.
- Sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.
- Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
1.2. Các hành vi tham nhũng
Trên cơ sở khái niệm hành vi tham nhũng và khái niệm người có chức vụ, quyền hạn nêu trên, Điều 3 của Luật phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể 12 loại hành vi tham nhũng, bao gồm:
- Tham ô tài sản.
- Nhận hối lộ.
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.
- Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Trong 12 loại hành vi tham nhũng nêu trên, thì có 7 loại hành vi đầu đã được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 (từ Điều 278 đến Điều 284), 5 loại hành vi sau là những hành vi đã phát sinh trong xã hội và đang trở nên phổ biến, cần được quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc xử lý.
2. Phòng ngừa tham nhũng
Phòng ngừa tham nhũng được coi là yếu tố quan trọng, mang tính chiến lược, quyết định hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng đã quy định một hệ thống các biện pháp nhằm phòng ngừa tham nhũng và có thể coi đây là nội dung quan trọng nhất của Luật.
2.1. Công khai, minh bạch hoá hoạt động của bộ máy nhà nước
Công khai, minh bạch là một giải pháp quan trọng trong hệ thống các giải pháp phòng ngừa tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng đã dành nhiều quy định cho công khai, minh bạch, vấn đề công khai, minh bạch đã được đề cập một cách toàn diện, chi tiết và có tính khả thi. Nói cách khác, công khai, minh bạch đã được "cơ chế hoá" trong đạo luật này.
Theo đó, về nguyên tắc, toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật quy định phải bí mật. Đồng thời, để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Luật quy định các hình thức công khai, minh bạch hoá hoạt động của cơ quan, tổ chức mình. Luật phòng, chống tham nhũng cũng lựa chọn những nội dung quan trọng, dễ phát sinh tham nhũng, buộc phải công khai như: mua sắm công, quản lý dự án đầu tư, xây dựng, tài chính và ngân sách nhà nước, huy động và sử dụng các khoản viện trợ, quản lý và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, quản lý và sử dụng đất, nhà ở , y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, thể dục thể thao, thanh tra, kiểm toán nhà nước, hoạt động giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, tư pháp, công tác cán bộ.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đó có các cơ quan báo chí được phép yêu cầu các cơ quan nhà nước phải trả lời công khai về các hoạt động của mình theo quy định của pháp luật. Các cơ quan được yêu cầu chỉ được phép từ chối cung cấp thông tin nếu nội dung được yêu cầu thuộc về bí mật nhà nước.
2.2. Xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, định mức, tiêu chuẩn.
Thực tế cho thấy một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng tham nhũng, lãng phí tài sản nhà nước đó là việc hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, việc thực hiện không đúng hoặc cố ý làm trái. Luật phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc xây dựng, hoàn thiện và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong quản lý nhà nước và trong các hoạt động kinh tế - xã hội. Đồng thời, trách nhiệm pháp lý cụ thể của đối tượng vi phạm cũng đã được xác định rõ, góp phần răn đe cũng như tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xử lý vi phạm, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của người cho phép sử dụng thực hiện sai chế độ, định mức, tiêu chuẩn.
2.3. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức
Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức không chỉ có nhiệm vụ là phòng, chống tham nhũng mà nó còn có vai trò rất lớn trong việc xây dựng một nền quản lý nói chung và quản lý hành chính nói riêng trong sạch, liêm chính và trách nhiệm. Luật phòng, chống tham nhũng một mặt tiếp tục bổ sung để hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ và những điều cấm đối với cán bộ, công chức, mặt khác, quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng phù hợp với đặc thù của ngành, cơ quan mình. Theo đó, Điều 37 quy định về những điều cán bộ, công chức, viên chức không được làm trên cơ sở phát triển quy định hiện hành tương ứng của Pháp lệnh cán bộ, công chức và Pháp lệnh chống tham nhũng. Điều 38 và Điều 39 quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng.
2.4. Việc tặng quà và nhận quà tặng
Tặng quà và nhận qùa tặng là vấn đề mang tính chất xã hội, là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, từ trước đến nay được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức - xã hội là chủ yếu. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp đã bị lợi dụng để thực hiện hành vi tiêu cực. Vì vậy, vấn đề này cần phải được điều chỉnh trong Luật phòng, chống tham nhũng. Điều 40 quy định một số nguyên tắc chung về quà tặng và nhận quà tặng nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng quà tặng, nhận quà tặng để đưa, nhận hối lộ. Chính phủ đã có Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 ban hành quy chế quy định về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.
2.5. Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức
Việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức được coi là một giải pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa hiện tượng cấu kết, móc nối hình thành "đường dây" tiêu cực, tham nhũng. Điều 43 quy định một số nguyên tắc chung về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Để đảm bảo sự ổn định của quản lý và tính chất chuyên sâu của công việc, việc chuyển đổi chỉ là chuyển đổi vị trí, mang tính chất địa lý, cơ học chứ không phải chuyển đổi về nội dung, tính chất công việc, đồng thời việc chuyển đổi chỉ thực hiện đối với một số vị trí quản lý tiền, tài sản của nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2.6. Minh bạch tài sản của cán bộ, công chức
Với việc ban hành Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998, Việt Nam đã thực hiện việc kê khai tài sản - một nội dung của cơ chế minh bạch tài sản. Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống minh bạch tài sản ở Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở kê khai tài sản đơn thuần, còn thiếu nhiều yếu tố để nhà nước có thể kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Luật phòng, chống tham nhũng đã quy định một cách khá toàn diện và đầy đủ những nội dung cơ bản nhất của hệ thống minh bạch tài sản, bao gồm những vấn đề chính sau:
- Cán bộ, công chức phải kê khai tài sản hàng năm. Để tránh che dấu, tẩu tán tài sản tham nhũng, ngoài việc kê khai tài sản của bản thân, cán bộ, công chức còn phải kê khai tài sản của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Đối tượng tài sản phải kê khai được mở rộng hơn so với Pháp lệnh chống tham nhũng.
- Việc xác minh tài sản được tiến hành trong một số trường hợp nhất định. Đây là điểm mới so với Pháp lệnh chống tham nhũng. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trưởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không.
- Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Người có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là người ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn sẽ không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến.
2.7. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nước và chống tham nhũng nói riêng. Luật phòng, chống tham nhũng quy định một cách chi tiết về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm những nội dung chính sau:
- Phân định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó được giao phụ trách các lĩnh vực; theo đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chung và phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực do mình quản lý, cấp phó chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực được giao phụ trách.
- Phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu đơn vị, phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mình.
Để tạo cơ sở xử lý trách nhiệm người đứng đầu, trong kết luận thanh tra, kiểm toán, điều tra phải có kết luận về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị xảy ra tham nhũng là yếu kém trong quản lý, buông lỏng quản lý hay bao che cho hành vi tham nhũng.
3. Phát hiện tham nhũng
3.1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát
Luật phòng, chống tham nhũng quy định các hình thức hoạt động cụ thể để phát hiện hành vi tham nhũng. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức nhằm chủ động phát hiện và kịp thời xử lý hành vi tham nhũng; cơ quan quản lý có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra hoạt động chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng. Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Quốc hội, Hội đồng nhân dân có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng thông qua công tác thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, kiểm sát, xét xử và giám sát.
3.2. Tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng
Tố cáo là một nguồn tin quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng; khen thưởng người tố cáo hành vi tham nhũng.
4. Xử lý hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác
4.1. Xử lý kỷ luật, xử lý hình sự
Luật quy định hai hình thức chế tài áp dụng đối với người có hành vi tham nhũng là xử lý kỷ luật hoặc xử lý hình sự. Luật không chỉ quy định đối tượng có hành vi tham nhũng bị xử lý mà quy định cả các đối tượng khác có hành vi vi phạm liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hay trách nhiệm của mình mà pháp luật đã có quy định. Theo đó, đối tượng bị áp dụng chế tài gồm: người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật; người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng; người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng; người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 68).
Đối tượng có thể bị xử lý liên quan đến việc thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng rất đa dạng. Tuy nhiên, đối với cán bộ, công chức, viên chức (là nhóm chủ yếu trong số những người có chức vụ, quyền hạn) thì hình thức xử lý phổ biến đối với họ (nếu chưa đến mức xử lý hình sự) là việc áp dụng các hình thức kỷ luật bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Hạ ngạch; Cách chức; Buộc thôi việc.
Nếu hành vi vi phạm đến mức độ nguy hiểm cao gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản của Nhà nước thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo phần các tội phạm về tham nhũng bao gồm các tội danh được quy định từ Điều 278 đến Điều 283, Điều 289 và Điều 290 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào tính chất và mức độ phạm tội của người thực hiện hành vi tham nhũng mà họ bị phạt tù, bị tù chung thân (theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thì hình phạt cao nhất cho các tội phạm về tham nhũng là tù chung thân); người phạm tội còn bị phạt tiền và cấm đảm nhiệm các chức vụ nhất định. Ngoài ra, họ có thể bị truy cứu về các tội danh khác như tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 285 của Bộ luật hình sự.
Luật phòng, chống tham nhũng đã có những quy định nghiêm khắc hơn về hậu quả pháp lý đối với người có hành vi tham nhũng, cụ thể, trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân” (Điều 69).
4.2. Xử lý tài sản tham nhũng
Luật phòng, chống tham nhũng quy định về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sử hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung công quỹ nhà nước. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát hiện thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. Theo Điều 71 về thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài thì trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp.
5. Tổ chức, trách nhiệm và hoạt động phối hợp của các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong phòng, chống tham nhũng
5.1. Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng
Hiện nay, nhiệm vụ chống tham nhũng được giao cho nhiều cơ quan khác nhau, với nguyên tắc toàn bộ các cơ quan nhà nước, toàn thể hệ thống chính trị và cả xã hội có trách nhiệm tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Tuy nhiên, do hoạt động chống tham nhũng của các cơ quan còn mang tính riêng lẻ, thiếu sự thống nhất và phối hợp nên hiệu quả của hoạt động phòng, chống tham nhũng chưa cao. Luật phòng, chống tham nhũng quy định việc thành lập Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước. Giúp việc cho Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng có bộ phận thường trực hoạt động chuyên trách.
Ban chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ban chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng có bộ phận giúp việc.
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ
5.2. Đơn vị chống tham nhũng chuyên trách
Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các cơ quan có vai trò, nhiệm vụ hết sức quan trọng trong phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng hiện đang được tiến hành trong tổng thể các nhiệm vụ phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự của các cơ quan này. Luật phòng, chống tham nhũng quy định thành lập các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng trong các cơ quan nêu trên nhằm tăng cường khả năng chuyên sâu, tính độc lập trong hoạt động từ đó nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.
5.3. Cơ chế phối hợp trong phòng, chống tham nhũng
Luật phòng, chống tham nhũng quy định nhiều nội dung quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát với những nội sung cơ bản sau:
- Nhấn mạnh vai trò trách nhiệm của từng cơ quan trong phòng, chống tham nhũng và đặc biệt là trách nhiệm phối hợp.
- Phân định rõ ràng hoạt động phối hợp chung nhằm ngăn ngừa tham nhũng và phối hợp phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng có dấu hiệu tội phạm.
6. Vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng
Vai trò và sự tham gia của xã hội trong phòng, chống tham nhũng là một yếu tố quan trọng trong hệ thống phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Luật phòng, chống tham nhũng tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý hiện hành nhằm khuyến khích và đảm bảo việc tham gia chủ động, tích cực và hiệu quả của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, gồm các nội dung sau:
- Ghi nhận và đề cao vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể xã hội, báo chí, doanh nghiệp và công dân trong phòng, chống tham nhũng; có các quy định cụ thể nhằm khuyến khích và đảm bảo sự tham gia của xã hội.
- Quy định rõ về quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức và công dân; cơ chế cụ thể để thực hiện quyền này.
- Quy định những nội dung cơ bản về tố cáo hành vi tham nhũng. Chế định về tố cáo hành vi tham nhũng là một phần quan trọng của Luật phòng, chống tham nhũng. Đây cũng là cơ chế quan trọng nhất để công dân trực tiếp tham gia phát hiện các hành vi tham nhũng.
7. Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng
Trên cơ sở ghi nhận nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi, Luật phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng như sau:
- Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan hữu quan thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, xây dựng chính sách, trao đổi thông tin, hỗ trợ tài chính, trợ giúp kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm trong phòng, chống tham nhũng.
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong phòng, chống tham nhũng.
Để Luật phòng, chống tham nhũng được triển khai thực hiện có hiệu quả sớm đi vào cuộc sống, trước mắt cần tập trung: Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật phòng, chống tham nhũng, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật phòng, chống tham nhũng cho tất cả đối tượng có liên quan và nhân dân về những nội dung quy định trong Luật. Các phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật một cách sâu rộng đến với mọi tầng lớp nhân dân.
 
B. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG
1. Những thông tin chung về Công ước
Công ước Liên Hiệp Quốc (LHQ) về chống tham nhũng được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 01/10/2003 tại Trụ sở LHQ ở New York. Công ước được mở cho tất cả các nước thành viên LHQ ký từ ngày 09 đến ngày 11/12/2003 tại Merida, Mexico, và sau đó là tại Trụ sở LHQ ở New York đến ngày 09/12/2005. Công ước cũng được mở cho tất cả các tổ chức hội nhập kinh tế quốc tế khu vực ký nếu tổ chức đó có ít nhất là một nước thành viên đã ký Công ước này. Ngày 10/12/2003, Việt Nam đã ký Công ước với bảo lưu gửi kèm theo Văn kiện phê chuẩn ngày 19 tháng 8 năm 2009 như sau:
“Xét Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 01 tháng 10 năm 2003,
Và, xét Công ước đã được ký thừa uỷ quyền của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 10 tháng 12 năm 2003.
Bằng văn kiện này, Tôi, Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố rằng, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau khi đã nghiên cứu kỹ nội dung Công ước, phê chuẩn Công ước này và cam kết sẽ thi hành đầy đủ các quy định của Công ước .
Khi phê chuẩn Công ước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ khoản 3 Điều 66 của Công ước, tuyên bố nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không bị ràng buộc bởi khoản 2 Điều 66 của Công ước. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đồng thời gửi kèm Bản Tuyên bố về việc thực thi Công ước này.
Để làm bằng, Tôi đã ký và đóng dấu Văn kiện Bảo lưu này.”.
Ngoài ra, Việt Nam cũng tuyên bố gửi kèm theo Văn kiện phê chuẩn ngày 19 tháng 8 năm 2009 như sau:
1. Phù hợp với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp theo quy định tại Điều 20 và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định tại Điều 26 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
2. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; việc thực hiện các quy định của Công ước trên sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam, trên cơ sở các thoả thuận hợp tác song phương hoặc đa phương với nước khác và nguyên tắc có đi có lại.
3. Căn cứ Điều 44 của Công ước, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện dẫn độ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại.”.
Ngày 14/12/2005, Công ước có hiệu lực thi hành, có 143 nước là thành viên (đến ngày 20.6.2010).
Ngày 18.9.2009, Công ước này có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam.
2. Nội dung tổng quát của Công ước
2.1. Cấu trúc chung của Công ước
Công ước gồm có: Lời nói đầu, 8 chương, 71 điều, cụ thể:
Chương I: Những quy định chung;
Chương II: Các biện pháp phòng ngừa;
Chương III: Hình sự hoá và thực thi pháp luật;
Chương IV: Hợp tác quốc tế;
Chương V: Thu hồi tài sản;
Chương VI: Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin;
Chương VII: Các cơ chế thi hành Công ước;
Chương VIII: Các điều khoản cuối cùng.
2.2. Lời nói đầu của Công ước
Lời nói đầu của Công ước ghi nhận tính chất nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực của tham nhũng đối với các giá trị dân chủ, nguyên tắc pháp quyền và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế. Các quốc gia cần quyết tâm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng bằng hệ thống các biện pháp toàn diện, đa dạng và hữu hiệu. Đồng thời, các quốc gia thành viên Công ước cần tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng thông qua hợp tác điều tra, truy tố, trao đổi thông tin, thu hồi tài sản, trợ giúp kỹ thuật, gồm cả hỗ trợ tăng cường năng lực xây dựng thể chế.
2.3. Những quy định chung
     a, Mục đích của Công ước
Mục đích chung nhất của Công ước là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia trong hoạt động phòng, chống tham nhũng thông qua hệ thống các biện pháp phòng, chống hữu hiệu.
Điều 1 Công ước khẳng định: “Thúc đẩy và tăng cường các biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả hơn…Thúc đẩy, tạo điều kiện và hỗ trợ hợp tác quốc tế và trợ giúp kỹ thuật trong phòng, chống tham nhũng, bao gồm cả việc thu hồi tài sản”.
     b, Phạm vi của Công ước
     Theo quy định tại Điều 3 Công ước, phạm vi áp dụng của Công ước bao trùm tất cả các lĩnh vực của công tác chống tham nhũng, gồm: phòng ngừa, điều tra, truy tố tham nhũng và việc phong toả, tạm giữ, tịch thu và hoàn trả tài sản có được do phạm các tội quy định trong Công ước. Điều này phản ánh mong muốn của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng, thực thi Công ước chống tham nhũng Liên Hợp quốc như một công cụ phòng, chống tham nhũng toàn diện, hệ thống, đáp ứng được các yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tham nhũng của mỗi quốc gia cũng như từng khu vực và trên toàn thế giới.
          c, Vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia
          Tham nhũng là một vấn đề tương đối nhạy cảm, luôn có sự gắn kết chặt chẽ với hoạt động quản lý Nhà nước. Việc hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng tiềm ẩn nguy cơ chủ quyền quốc gia có thể bị ảnh hưởng, hoặc công việc nội bộ của quốc gia bị can thiệp. Do vậy, để đảm bảo hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng thật sự vì mục đích phòng ngừa, phát hiện, xử lý và khắc phục hậu quả tham nhũng, tránh sự lợi dụng nhằm các mục đích gây ảnh hưởng, can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, Điều 4 Công ước quy định:
“Các quốc gia thành viên Công ước này thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước theo cách thức phù hợp với các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác”.
3. Một số quy định cụ thể của Công ước
3.1. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng
Phòng ngừa tham nhũng đóng vai trò thiết yếu trong đấu tranh chống tham nhũng, giúp ngăn ngừa hành vi tham nhũng, tăng cường khả năng phát hiện tham nhũng và khắc phục hậu quả tham nhũng. Trên cơ sở nhận thức đó, Công ước đã dành toàn bộ Chương II quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng mà các quốc gia thành viên cần xây dựng, thực hiện hoặc duy trì. Điều 5 Công ước nêu yêu cầu: “Phải thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện nguyên tắc nhà nước pháp quyền, quản lý đúng đắn việc công và tài sản công, tính liêm khiết, minh bạch và trách nhiệm”.
Đồng thời, Công ước quy định nghĩa vụ hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy và xây dựng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, trong đó có nghĩa vụ tham gia các chương trình và dự án quốc tế về phòng ngừa tham nhũng và thiết lập các thiết chế trong nước về vấn đề phòng chống tham nhũng.
          a, Cơ quan phòng, chống tham nhũng
          Điều 6 và Điều 36 Công ước quy định việc thành lập cơ quan hoặc lực lượng phòng, chống tham nhũng chuyên trách là cần thiết nhằm thực thi, giám sát và phối hợp việc thi hành các chính sách và hành động chống tham nhũng. Các quốc gia thành viên cần đảm bảo sự độc lập cần thiết cho cơ quan nói trên, trong đó có việc cung cấp phương tiện vật chất, đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ này để họ có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
          b, Phòng, chống tham nhũng ở Khu vực công
          Các quốc gia thành viên cần nỗ lực ban hành, duy trì và củng cố các chính sách nhằm tăng cường minh bạch, hiệu quả hoạt động của khu vực công, bao gồm: cải cách chế độ tuyển dụng, thuê, sử dụng, đề bạt và hưu trí đối với công chức; thúc đẩy sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong đội ngũ công chức, trong đó có việc nghiên cứu ban hành và tổ chức thực hiện những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự đối với công chức; xây dựng các cơ chế mua sắm công phù hợp, cạnh tranh và khách quan; áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm tăng cường minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài chính công; tăng cường minh bạch trong quản lý hành chính công cùng với các hoạt động tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định.
          c, Các biện pháp liên quan truy tố và xét xử
          Điều 11 Công ước ghi nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo sự độc lập trong hoạt động xét xử. Các quốc gia cần áp dụng các biện pháp tăng cường tính liêm khiết và phòng ngừa cơ hội tham nhũng đến với cán bộ toà án, trong đó có việc ban hành bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ toà án và tư pháp. Những biện pháp có tác dụng tăng cường tính liêm khiết cũng cần được áp dụng đối với cán bộ của cơ quan công tố và điều tra.
          d, Sự tham gia của xã hội
           Điều 13 Công ước quy định việc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên nhân, tính chất nghiêm trọng và mối đe doạ của tham nhũng; thúc đẩy sự tham gia tích cực, chủ động của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công như xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng, công chúng, thông tin đại chúng vào công tác phòng, chống tham nhũng.
          e, Các biện pháp chống rửa tiền
          Công ước dành nhiều điều khoản quy định trực tiếp và gián tiếp đến các biện pháp mà các quốc gia thành viên cần áp dụng nhằm ngăn ngừa và chống rửa tiền. Điều 14 quy định các biện pháp chống rửa tiền mang tính định hướng và phòng ngừa là chủ yếu. Theo đó, các quốc gia cần thiết lập cơ chế giám sát toàn diện đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng, các cơ quan khác đặc biệt dễ phát sinh hoạt động rửa tiền, nhằm ngăn chặn, phát hiện mọi hình thức rửa tiền; áp dụng các biện pháp khả thi nhằm kiểm soát, phát hiện việc di chuyển tiền mặt và tài sản qua biên giới nhưng không được gây cản trở đối với sự di chuyển của các dòng vốn hợp pháp; tăng cường hợp tác nhằm đấu tranh chống rửa tiền.
          f, Phòng, chống tham nhũng ở Khu vực tư
          Điều 12 của Công ước quy định các quốc gia thành viên Công ước, trên cơ sở luật pháp quốc gia, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng liên quan đến khu vực tư, tăng cường các chuẩn mực kế toán, kiểm toán liên quan đến khu vực tư; ban hành các chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự có hiệu lực đối với các hành vi vi phạm.
3.2. Hình sự hoá và thực thi pháp luật
          a, Hình sự hoá
          Công ước đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải hình sự hoá các hành vi quy định từ Điều 15 đến Điều 25 của Công ước, gồm: hối lộ công chức quốc gia; hối lộ công chức nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế công; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức; Lạm dụng ảnh hưởng để trục lợi; Lạm dụng chức năng; Hối lộ trong khu vực tư; Biển thủ tài sản trong khu vực tư; Che dấu tài sản; Cản trở hoạt động tư pháp. Đối với việc hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20) và hành vi tẩy rửa tiền và tài sản do phạm tội mà có (Điều 23), các quốc gia thực hiện dựa trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia.
          b, Phong toả, tạm giữ, tịch thu
          Trên nguyên tắc mọi tài sản do hành vi tham nhũng mà có đều phải bị thu hồi, Công ước đã quy định các quốc gia thành viên, trong phạm vi rộng nhất được pháp luật quốc gia cho phép, ban hành các quy định cần thiết cho phép tịch thu tất cả tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước, kể cả tài sản đó đã bị biến đổi, lẫn lộn với tài sản khác và các lợi ích, thu nhập phát sinh từ tài sản tham nhũng; tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác đã hoặc sẽ sử dụng để thực hiện hành vi tham nhũng. Đồng thời, để đảm bảo mục đích tịch thu, Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp phong toả và tạm giữ cần thiết.
          c, Trách nhiệm của pháp nhân
          Các quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc gia, cần quy định trách nhiệm của pháp nhân khi tham gia các tội phạm quy định tại Công ước. Hình thức trách nhiệm cụ thể do các quốc gia tự quyết định, có thể là trách nhiệm hình sự, hành chính hoặc dân sự, miễn là hình thức trách nhiệm được áp dụng tương xứng, thích đáng và có tác dụng ngăn ngừa. Ngoài ra, trách nhiệm của pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
          d, Bảo vệ nhân chứng, chuyên gia giám định và nạn nhân
          Công ước quy định các quốc gia, căn cứ pháp luật quốc gia và khả năng có thể, áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ nhân chứng, chuyên gia giám định, nạn nhân trước nguy cơ bị trả thù. Ngoài các biện pháp cụ thể nêu tại Khoản 2 Điều 32, Công ước cũng khuyến nghị các quốc gia xem xét việc ký hiệp định hoặc thoả thuận nhằm tái định cư những người nhắc đến tại Khoản 1 Điều 32. Đồng thời, tại Điều 33, Công ước cũng quy định việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ người tố giác trước những đối xử bất công khi tố giác hành vi tham nhũng.
3.3. Hợp tác quốc tế theo Công ước
Hợp tác quốc tế trong phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với tội phạm tham nhũng là một nội dung quan trọng của Công ước . Khoản 1 Điều 43 Công ước quy định nghĩa vụ chung về vấn đề hợp tác quốc tế: “Các quốc gia thành viên của Công ước hợp tác về hình sự theo quy định tại các điều từ Điều 44 đến Điều 50 Công ước này. Khi thích hợp và phù hợp với hệ thống pháp luật quốc gia mình, các quốc gia thành viên phải xem xét trợ giúp cho nhau trong việc điều tra, thủ tục tố tụng dân sự và hành chính liên quan đến tham nhũng”.
          a, Dẫn độ tội phạm
          Theo quy định tại Điều 44 Công ước, phạm vi dẫn độ được áp dụng là các tội phạm về tham nhũng quy định tại Công ước, kể cả trong trường hợp hành vi đó không bị trừng phạt theo pháp luật quốc gia. Phạm vi dẫn độ nói trên được coi là một nội dung của các Hiệp định dẫn độ hiện hành giữa các quốc gia thành viên và sẽ được đưa vào các Hiệp định dẫn độ mà các quốc gia thành viên sẽ ký kết với nhau. Đối với các quốc gia yêu cầu việc dẫn độ phải dựa trên hiệp định dẫn độ, trong trường hợp không có hiệp định dẫn độ, các bên có thể coi Công ước này là căn cứ pháp lý quốc tế cho việc dẫn độ. Tại thời điểm phê chuẩn, công nhận, thông qua hoặc gia nhập Công ước, các quốc gia thành viên phải thông báo cho Tổng Thư ký Liên Hợp quốc về việc có chấp nhận Công ước làm căn cứ pháp lý cho việc dẫn độ hay không. Nếu các quốc gia thành viên không chấp nhận, Công ước khuyến nghị các bên ký Hiệp định dẫn độ để thực hiện điều khoản về dẫn độ của Công ước. Đồng thời, Công ước khuyến khích các quốc gia thành viên ký kết các hiệp định song phương, đa phương về dẫn độ hoặc tăng cường hiệu quả hoạt động dẫn độ.
          b, Tương trợ tư pháp về các vấn đề hình sự
          Khoản 1 Điều 46 Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên của Công ước dành cho nhau biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất trong điều tra, truy tố và xét xử những loại tội phạm quy định tại Công ước này”. Trong trường hợp giữa các quốc gia hữu quan không có Hiệp định tương trợ tư pháp, Điều 46 Công ước được áp dụng để điều chỉnh vấn đề tương trợ tư pháp. Nếu có Hiệp định tương trợ tư pháp, các nội dung tương ứng phải được áp dụng, trừ khi các quốc gia thành viên đồng ý áp dụng các quy định của Công ước thay thế.
          Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải chỉ định một cơ quan trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp, thực hiện hoặc chuyển các yêu cầu sang cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Quốc gia thành viên phải thông báo cho Tổng Thư ký Liên Hợp quốc về cơ quan trung ương được chỉ định vì mục đích này vào thời điểm phê chuẩn, chấp nhận, thông qua hoặc gia nhập Công ước.
          c, Hợp tác thực thi pháp luật
           Các quốc gia thành viên cần tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng. Theo đó, các quốc gia phải áp dụng các biện pháp hiệu quả nhằm: tăng cường khả năng kiểm soát đối tượng tình nghi, tài sản, công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm tham nhũng; nâng cao khả năng trao đổi thông tin về hành vi tham nhũng; tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia; phối hợp thực hiện các biện pháp hành chính và các biện pháp khác nhằm sớm nhận dạng tham nhũng. Các hiệp định quốc tế về vấn đề này được khuyến khích ký kết.
          d, Kỹ thuật điều tra đặc biệt
          Để chống tham nhũng có hiệu quả, Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp nhằm cho phép các cơ quan chức năng sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt, chẳng hạn như giám sát điện tử và các hình thức giám sát khác, hoạt động chìm. Việc ký kết các Hiệp định làm cơ sở cho việc sử dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt khi hợp tác ở cấp độ được Công ước khuyến khích. Trong trường hợp chưa có Hiệp định hoặc thoả thuận, việc áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt được đưa ra theo từng vụ việc, thuộc quyền tự quyết của quốc gia.
3.4. Thu hồi tài sản
Điều 51, Chương V Công ước quy định: “Hoàn trả tài sản theo quy định tại Chương này là nguyên tắc căn bản của Công ước này, và theo đó, các quốc gia thành viên cung cấp cho nhau các biện pháp hợp tác và trợ giúp rộng rãi nhất”. Trên cơ sở đó, Công ước quy định các biện pháp toàn diện nhằm tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản có được do hành vi tham nhũng.
          a, Phòng ngừa và phát hiện việc chuyển tài sản do phạm tội mà có
          Các quốc gia cần áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm yêu cầu các tổ chức tài chính tăng cường nhận dạng, kiểm soát kỹ các tài khoản đáng ngờ, nhân danh hoặc có liên quan đến những cá nhân đang hoặc đã giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước hoặc những người có liên quan của họ. Công ước yêu cầu các quốc gia xem xét thiết lập hệ thống công khai tài chính đối với nhóm công chức nhất định, trong đó có việc yêu cầu công chức báo cáo về sự liên quan của mình đối với tài khoản ở nước ngoài, các biện pháp công khai tài chính phải bao gồm chế tài đối với hành vi không chấp hành.
          b, Các biện pháp thu hồi tài sản trực tiếp
           Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên, căn cứ pháp luật quốc gia, áp dụng các biện pháp cần thiết cho phép quốc gia thành viên khác khởi kiện để xác định quyền đối với tài sản có được do hành vi tham nhũng, cho phép toà án của mình yêu cầu người thực hiện hành vi tội phạm bồi thường thiệt hại, cho phép toà án công nhận quốc gia thành viên có yêu cầu là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản khi phải có quyết định tịch thu.
          c, Hợp tác quốc tế vì mục đích tịch thu và các cơ chế thu hồi tài sản thông qua hợp tác quốc tế trong việc tịch thu
          Điều 55 Công ước quy định các quốc gia thành viên Công ước khi nhận được yêu cầu tịch thu tài sản, công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm tham nhũng quy định tại Công ước từ một quốc gia thành viên khác có quyền tài phán đối với tội phạm đó, trong phạm vi rộng nhất mà pháp luật quốc gia cho phép, phải: xem xét yêu cầu để cấp lệnh tịch thu và thi hành lệnh tịch thu; xem xét công nhận hiệu lực thi hành của lệnh tịch thu do toà án của quốc gia yêu cầu ban hành. Để thực hiện quy định này, Điều 54 Công ước đề ra các biện pháp mà quốc gia thành viên cần áp dụng, trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc gia: áp dụng các biện pháp cần thiết cho phép công nhận hiệu lực thi hành của lệnh tịch thu ban hành bởi quốc gia thành viên khác; phong toả hoặc thu giữ tài sản theo lệnh tịch thu của toà án, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia yêu cầu hoặc theo đề nghị của quốc gia yêu cầu; và các biện pháp cần thiết khác.
d, Trả lại và xử lý tài sản
          Điều 57 Công ước quy định về việc xử lý tài sản bị tịch thu. Theo Khoản 1 Điều 57 Công ước, việc xử lý tài sản có liên quan đến tội phạm tham nhũng đã bị tịch thu theo Điều 31 hoặc Điều 55, bao gồm cả việc trả lại chủ sở hữu hợp pháp, sẽ do quốc gia thành viên đã tiến hành tịch thu tài sản đó thực hiện theo quy định của Công ước và pháp luật quốc gia đó.
          Khoản 2 Điều 57 Công ước quy định các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp cần thiết khác để cho phép cơ quan có thẩm quyền của mình trả lại tài sản bị tịch thu khi hành động theo yêu cầu của quốc gia thành viên khác.
          Để thực thi Khoản 1 và 2, Khoản 3 Điều 57 Công ước quy định về các trường hợp và nghĩa vụ trả lại tài sản bị tịch thu:
          (i) Trong trường hợp tham ô công quỹ (Điều 17) hoặc tẩy rửa tài sản có được do tham ô công quỹ (Điều 23), khi việc tịch thu được thực hiện theo Điều 55 của Công ước và trên cơ sở bản án cuối cùng của quốc gia yêu cầu (quốc gia được yêu cầu có thể miễn điều kiện này), quốc gia được yêu cầu phải trả lại tài sản cho quốc gia yêu cầu. Như vậy, khi điều kiện về nội dung (Điều 17, Điều 23) và về thủ tục (Điều 55) được đáp ứng, quốc gia đã tiến hành tịch thu tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản cho quốc gia đã yêu cầu tịch thu;
          (ii) Khi việc tịch thu tài sản có được do phạm các tội quy định tại Công ước được thực hiện theo Điều 55 của Công ước và trên cơ sở bản án cuối cùng của quốc gia yêu cầu (quốc gia được yêu cầu có thể miễn điều kiện này) và quốc gia yêu cầu chứng minh được quyền sở hữu trước đó của mình đối với tài sản hoặc nếu quốc gia được yêu cầu coi thiệt hại đối với quốc gia yêu cầu là căn cử để trả lại tài sản, thì quốc gia được yêu cầu phải trả lại tài sản cho quốc gia yêu cầu;
          (iii) Trong các trường hợp khác, việc trả lại tài sản bị tịch thu cho quốc gia yêu cầu hoặc chủ sở hữu hợp pháp trước đó của tài sản hoặc bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm sẽ được quốc gia tịch thu coi là ưu tiên khi xem xét xử lý tài sản đó.
          Quốc gia được yêu cầu có thể khấu trừ các chi phí hợp lý phát sinh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để dẫn đến việc trả lại hay xử lý tài sản bị tịch thu theo Điều 57.
          Việc trả lại tài sản cho nước gốc theo quy định tại Điều 57 của Công ước là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp xét trên nhiều khía cạnh: kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội…Vì vậy, Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên dành “sự quan tâm đặc biệt” nhằm đi đến các thoả thuận hoặc dàn xếp đối với từng vụ việc cụ thể để đưa ra quyết định xử lý cuối cùng đối với tài sản bị tịch thu.
e, Đơn vị tình báo tài chính
Theo quy định tại Điều 58 Công ước, để thúc đẩy cách thức và biện pháp nhằm thu hồi tài sản, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ xem xét việc thành lập đơn vị tình báo tài chính. Đơn vị này sẽ có nhiệm vụ tiếp nhận, phân tích và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền báo cáo về các giao dịch tài chính đáng ngờ.
Do tính chất quan trọng của vấn đề thu hồi tài sản có được do tham nhũng, cùng với các quy định tương đối chi tiết, toàn diện và mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật cao về hợp tác quốc tế nhằm thu hồi tài sản tại Chương V Công ước, Điều 59 Chương V quy định: “Các quốc gia thành viên phải xem xét việc ký kết các thoả thuận hoặc dàn xếp song phương hoặc đa phương nhằm nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế theo quy định tại Chương này của Công ước”.
3.5. Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin
Các quốc gia có nghĩa vụ khởi xướng, phát triển hoặc tăng cường các chương trình đào tạo cụ thể đối với đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm về phòng, chống tham nhũng theo các nội dung đề ra tại Khoản 1 Điều 60 Công ước.
Các quốc gia thành viên, tuỳ vào khả năng của mình, xem xét hỗ trợ cho nhau về tài chính, trang thiết bị, đào tạo, kinh nghiệm và kiến thức chuyên ngành; nỗ lực tối đa hoá các hoạt động thực hành và đào tạo trong khuôn khổ các hiệp định và thoả thuận; tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phòng, chống tham nhũng; xem xét phát triển và chia sẻ số liệu về chống tham nhũng, đội ngũ chuyên gia phân tích thông tin về tham nhũng. Công ước đặc biệt khuyến nghị việc ký các Hiệp định về hỗ trợ tài chính, kỹ thuật giữa các quốc gia thành viên.
4. Cơ chế thi hành Công ước và các điều khoản cuối cùng
Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước là cơ chế thi hành Công ước chủ yếu. Hội nghị các quốc gia thành viên được thành lập để tăng cường năng lực và hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong Công ước và thúc đẩy, kiểm tra việc thực thi Công ước. Mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ cung cấp cho Hội nghị các quốc gia thành viên thông tin về chương trình, kế hoạch và hoạt động thực tiễn cũng như thông tin về các biện pháp lập pháp, hành chính để thi hành Công ước. Ban thư ký có nhiệm vụ trợ giúp Hội nghị các quốc gia thành viên, hỗ trợ hoạt động thông tin, báo cáo của các quốc gia thành viên đối với Hội nghị các quốc gia thành viên, bảo đảm sự phối hợp cần thiết với các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan.
C. ĐỀ ÁN “TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NHÂN DÂN
I. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐẾN NĂM 2020
Phòng, chống tham nhũng (PCTN) là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Những kết quả đạt được từ việc đổi mới hệ thống chính trị, cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật và hội nhập quốc tế tạo ra tiền đề quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, công cuộc đổi mới đất nước đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó có tệ tham nhũng. Việc xây dựng và thực hiện “Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020” là cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 xác định các mục tiêu căn bản, lâu dài cũng như những mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, đề ra các giải pháp toàn diện, đồng bộ với một kế hoạch thực hiện cụ thể có lộ trình và bước đi thích hợp. Chiến lược này cũng xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và xã hội trong việc tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của Chiến lược.
Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng (CLQGPCTN) đã đề ra các mục tiêu, giải pháp để ngăn chặn, triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũng; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, ngăn ngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Song song với đó là việc hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch. Từng bước xóa bỏ tệ hối lộ trong giao dịch thương mại và giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước. Đồng thời hoàn thiện chính sách xử lý, nhất là chính sách hình sự, tố tụng hình sự đối với tham nhũng…
CLQGPCTN đề ra 5 nhóm giải pháp cơ bản: Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh công khai, minh bạch; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm tóan, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện và xử lý tham nhũng; Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong PCTN.
CLQGPCTN đến năm 2020 được thực hiện theo 3 giai đoạn.
+ Giai đoạn thứ nhất (từ năm 2009 đến 2011), thực hiện đồng bộ các giải pháp như nâng cao năng lực phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Đẩy mạnh việc xử lý những vụ việc tham nhũng nổi cộm, gây bức xúc trong dân.
+ Giai đoạn thứ hai (từ năm 2011-2016), tiến hành mở rộng các biện pháp phòng ngừa như kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN làm căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật này phù hợp với tình hình mới.
+ Giai đoạn thứ ba (2016-2020), tiếp tục làm tốt các giải pháp đã đề ra và đã thực hiện từ các giai đoạn trước.
II. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 4061 CỦA UBND TỈNH GIA LAI
Thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 Ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, Quyết định số 445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07 tháng 4 năm 2010 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Ngày 14/10/2011, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 4061/QĐ-BTP phê duyệt Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp lụat về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016. Ngày 12/2/2012, Bộ Tư pháp đã có văn bản số 1068/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng
Thực hiện chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai đã có văn bản số 85/STP-PBPL ngày 16/3/2012 về việc đề xuất thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng. Ngày 06/6/2012, UBND tỉnh Gia Lai ban hành văn bản số 234/QĐ-UBND Về việc ban hành triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của liên hiệp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016.
Kế hoạch gồm những nội dung cơ bản sau:
1. Mục tiêu: Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa những hành vi tham nhũng của các bộ, công chức và viên chức, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; xây dựng cơ quan đơn vị trong sạch vững mạnh, đội ngũ cán bộ kỷ cương, liêm chính.
2. Yêu cầu: Việc triển khai thực hiện đề án phải có trọng tâm, trọng điểm; triển khai sâu rộng một số hình thức, biện pháp thiết thực, hiệu quả, phù hợp với các đối tượng; phát huy được sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị, các phương tiện thông tin đại chúng để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
3. Nội dung:
3.1. Tập trung tuyên truyền, phổ biến các văn bản sau:
+ Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2007) và các văn bản hướng dẫn thi hành;
+ Những nội dung cơ bản của Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng;
+ Những nội dung cơ bản của Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020;
+ Tình hình thực hiện công tác phòng chống tham nhũng của tỉnh;
3.2. Hình thức thực hiện Đề án:
- Biên soạn và phát hành tài liệu tuyên truyền, phổ biến nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng của Trung ương và văn bản hướng dẫn của địa phương;
- Xây dựng và nhân rộng mô hình điểm tuyên truyền trực tiếp pháp luật pháp luật về phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân;
- Định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn đối thoại về các chuyên đề pháp luật về phòng, chống tham nhũng; phối hợp với các cơ quan thông tin tuyền thông tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng, lên án, đấu tranh đối với những người có hành vi tham nhũng; biểu dương những việc làm tích cực, những nhân tố mới trong công tác phòng chống tham nhũng.
 
CÁC TIN KHÁC
LÀNG LENG TÔ TỔ CHỨC NGÀY HỘI ĐAI ĐOÀN KẾT (10/11/2015)
VAI TRÒ CỦA ỦY BAN MTTQ CÁC CẤP TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ (06/11/2015)
CHẾ ĐỘ HỖ TRỢ SINH HOẠT PHÍ ĐỐI VỚI ỦY VIÊN ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN CẤP HUYỆN (31/08/2015)
Ủy ban MTTQVN thị xã An Khê tổ chức Hội nghị lấy ý kiến nhân dân góp ý dự thảo Bộ luật Hình sự ( sửa đổi) (21/08/2015)
Huyện Chư Prông: với cuộc vận động “làm thay đổi nếp nghĩ cách làm trong đồng bào Dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững” (01/07/2015)
Thị xã Ayun Pa tổ chức Hội thao Đại đoàn kết lần thứ III- năm 2015 (01/07/2015)
Huyện Chư Sê, tổ chức Hội nghị sơ kết 4 năm triển khai thực hiên cuộc vân động “làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững”. (09/06/2015)
HỘI NGHỊ ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN MTTQ VIỆT NAM TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2010-2015 (05/06/2015)
Hội Liên hiệp Thanh niên thị xã An Khê tổ chức Liên hoan các đội tuyên truyền ca khúc cách mạng 2015 (21/05/2015)
Hội đồng Đội thị xã An Khê tổ chức thành công Đại hội cháu ngoan Bác Hồ (25/04/2015)
BAN THƯỜNG TRỰC ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THỊ XÃ AYUNPA TỔ CHỨC ĐỐI THOẠI GIỮA BÍ THƯ THỊ ỦY VỚI NHÂN DÂN (25/04/2015)
Ủy ban MTTQVN thị xã An Khê tổ chức chương trình “Thắm tình quân dân” 2015 với chủ đề “Bài ca đi cùng năm tháng” (23/04/2015)
ỦY BAN MẶT TRẬN HUYỆN ĐAK PƠ TRAO TẶNG NHÀ ĐẠI ĐOÀN KẾT (15/04/2015)
Lãnh đạo tỉnh thăm và tặng quà người có công với cách mạng (13/03/2015)
ỦY BAN MTTQ VIỆT NAM HUYỆN ĐAK PƠ TỔ CHỨC HỘI NGHỊ ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN LẦN THỨ 2, GIAI ĐOẠN 2010-2015. (13/03/2015)

 |<  <  4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 - 11 - 12 - 13  >  >| 
tai-xuong.png
 
              Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai
                          Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
                       Chịu trách nhiệm:  Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh Gia Lai